Gốm sứ Bình Dương

Xem kết quả: / 53
Bình thườngTuyệt vời 

Bây giờ Bình Dương đã công nghiệp hóa, cả vùng đất thuần nông nghèo kiệt xa xưa, nay đã "nở mặt nở mày". Song tâm khảm người dân Thủ Dầu Một vẫn không quên sự mở đầu: "Ai về chợ Thủ bán hũ, bán ve - Bán bộ đồ chè, bán cối đâm tiêu... Gốm sứ Bình Dương

Bây giờ Bình Dương đã công nghiệp hóa, cả vùng đất thuần nông nghèo kiệt xa xưa, nay  đã "nở mặt nở mày". Song tâm khảm người dân Thủ Dầu Một vẫn không quên sự mở đầu: "Ai về chợ Thủ bán hũ, bán ve - Bán bộ đồ chè, bán cối đâm tiêu".

Vang vọng hồn gốm sứ

Ngày xưa cả vùng Ðông Nam Bộ, đều gọi là xứ Ðồng Nai, đặc biệt là gốm sứ mỹ nghệ vào những năm 1920 đã từng có mặt ở Hội chợ Triển lãm quốc tế Pa-ri (Pháp).

Hưng Ðịnh, Lái Thiêu, là "cứ địa" của vùng gốm sứ đất Thủ. Những lò gốm nổi tiếng kể đến không ai không biết như lò Phi Công, Phước Vũ Long... "Mục sở thị" sản phẩm của họ, dù người khó tính cũng phải thốt lên lời khen. Dân chơi hoa cảnh và cả thương lái đều thích chậu cảnh Lái Thiêu bởi hoa văn tinh tế, "kỳ hoa dị thảo". Cho nên vào các tháng cuối năm cả vùng nhộn nhịp tàu xe đến ăn hàng. Trên bộ thì xe tải dập dìu đầy ắp chậu cảnh ngược ra miền trung, miền bắc, dưới bến thuyền ghe tấp nập đầy hàng xuôi sông Sài Gòn, kênh Thầy Cai về Hóc Môn, Tây Ninh. Số khác theo kênh xáng ra sông Vàm Cỏ về Bến Lức xuôi đồng bằng sông Cửu Long, Ðồng Tháp Mười, tứ giác Long Xuyên... Vật đổi sao dời, bây giờ Bình Dương đã công nghiệp hóa, giao thông phát triển, nhìn những chuyến xe tải chở nặng hàng gốm sứ chạy trên lộ rộng thênh thang, chạnh lòng chợt thấy nhơ nhớ những chiếc xe thổ mộ chở gốm sứ chạy bên những khóm lồ ô, tre trúc, cóc kèn xanh đậm ngả nghiêng trong gió sớm...

Một thời cả vùng Tân Uyên, Thuận An nổi lên hàng trăm lò gốm, sừng sững những "đại gia" như Kiến Xuân,Vương Lương, Thái Xương Hòa... Ðại gia đây được hiểu là những gia đình lớn, cả ông bà, cha mẹ, con cháu xúm xít vào cái lò gốm. Họ vắt đất ra tiền và thực tâm muốn giữ nghề cho con cháu. Kẹp vào giữa sự ăn nên làm ra của nhiều chủ lò "đại gia" là những gia đình nghèo. Họ cũng là chủ lò, nhưng là chủ lò "ké" hoặc đi thuê, cũng nhào nặn, cũng xoa ra cái chén, cái tô, cũng bình bông, chậu cảnh... rồi gửi nhờ vào một góc lò của ai đó để nung. Rồi hàng làm ra bỏ mối cho chỗ bạn quen, coi như là giúp nhau. Cái khó là sự cực nhọc quá đỗi, đôi vai trẻ thơ phải gánh nước, gánh đất từ vực sâu lên bờ cao, phải liên tục đổ nước vào đất sét, thứ đất này muốn nhào đều, phải nhô cả hai vai lên mà ghì vào tay đòn, càng quậy nó càng dính, càng đeo bám lấy nhau. Người thợ gốm Bình Dương tuy học ít nhưng sáng dạ. Ngay từ lúc tập tễnh nhào nặn những mẻ gốm sơ khai và chỉ đáng tuổi ở tầm điếu đóm cho các vị thợ cả, những thợ trẻ đã thấy bức xúc về cái đẳng cấp của gốm sứ quê mình trước những sản phẩm của Trung Quốc, Nhật Bản trên thị trường. Thế rồi những đứa nhỏ dám lập phòng thí nghiệm nghiên cứu men, nghiên cứu lửa... Phải chi giàu có cho cam, phòng thí nghiệm chỉ là mấy lon "ghi-gô", mấy chai nước tương, xì dầu... Các bà gần nhà thường trêu chọc gọi là "kỹ sư xà loỏng". Ðó không phải là lời giễu cợt mà là sự cổ vũ: "Nếu với quần cụt mà thành công thì cánh đại gia càng nể trọng đám chân đất chứ sao".

Chuyện của nhà Minh Long I

Ông già Hai kể trường hợp bà mẹ của ông Minh Long, đến giờ tuy con cái cơ ngơi, nhà cửa đàng hoàng ít ai dám mơ tưởng, nhưng bà vẫn không ưa nói chuyện giàu sang. Hồi ông Minh, ông Bạch còn nhỏ, còn là "kỹ sư xà loỏng" đồng tiền kiếm không dễ, cứ như người khác phải chắt chiu từng đồng để phòng thân. Ðằng này, bà không tiếc mở hầu bao chi tiền cho con mua sách gốm. Lúc hàng làm ra, đã có khuôn mặt rạng rỡ, bà mang đi chào hàng. Người mua sỉ hỏi bà, hàng lấy của chủ nào mà đẹp vậy? Bà nhìn, chỉ vào con trả lời: Kìa, ông chủ đứng đó! Mọi người cười rộ: Chủ thiệt à, sao nhí quá vậy? Ông già Hai gật gù: "Bây giờ "chả" có đủ cả máy móc nén chân không, máy tiện cùng lúc sản xuất nhiều loại khuôn, máy đúc áp lực cao cho phôi sứ chất lượng như ý, hệ thống máy sấy liên hoàn công nghệ Hoa Kỳ, máy phối men mầu tự động... và hệ thống lò nung gas nhiệt độ cao. Còn bao nhiêu kỹ sư, thợ lành nghề, bộ phận kiểm tra chất lượng sản phẩm, phòng thí nghiệm hiện đại"...

Ðược như vậy, đối với Minh Long I quả thật không đơn giản. Trong  công nghệ sản xuất gốm sứ cần giải được bài toán khó nhất về men và mầu. Nếu như trước đây các khâu công nghệ từ nghiền, pha chế, nhào nặn đất, vào khuôn, nung, trang trí, kiểm tra chất lượng thường tách rời, thì nay được khép kín, nhờ công nghệ cơ khí hiện đại, cơ sở thí nghiệm tiên tiến nhập khẩu từ các nước nên các khâu phân tích nguyên liệu, nghiên cứu kiểu dáng, kích thước sản phẩm, chọn nét chữ và sắc mầu, trình bày văn hóa... được điều khiển bằng vi tính mà Minh Long I có được chất liệu gốm sứ thật trong, thật sạch, loại bỏ được mọi yếu tố độc hại... Và cũng nhờ đó mà các kỳ hội chợ, triển lãm quốc tế ở Ðức, Hà Lan nhiều năm sản phẩm của Minh Long I đạt giải thưởng VPO của cơ quan sở hữu trí tuệ LHQ về công nghệ mầu ở nhiệt độ cao và đạt giải Sao Vàng về chất lượng châu Âu...

Một lần vui ở bàn trà, tôi hỏi ông Minh: "Bây giờ công nghệ sản xuất gốm sứ của Minh Long I nói riêng và Bình Dương nói chung đã đạt trình độ rất cao, song làm thế nào để nghề gốm sứ phát triển mà không bị mai một về văn hóa?". Ông Minh dốc bầu tâm sự: "Với tôi điều quan trọng nhất có lẽ là học, học ở mọi nơi, mọi lúc, học cả đổi mới công nghệ, học trong dân gian...". Ông ra bắc vào Chùa Một Cột, Hồ Gươm, Quốc Tử Giám và các chùa chiền nơi Kinh Bắc, rồi vào Huế thăm Thành Nội, các lăng tẩm, phố cổ Hội An cùng hàng trăm chùa chiền. Dọc dài đất nước, ở đâu có công trình kiến trúc cổ kính, danh lam thắng cảnh là ông Minh tìm đến để học, nghiên cứu về văn hóa dân gian. Ông cũng ra nước ngoài, đến thăm những nơi sản xuất gốm sứ nổi tiếng thế giới, thấy nghệ thuật gốm sứ rất đẹp, nhưng vẫn xa lạ. Tình cờ hôm về quê nhìn thấy cái lu mái vú chứa nước đặt nơi gốc mít đầu nhà, đơn sơ mộc mạc, nhưng duyên dáng, gần gũi. Tiện tay ông Minh với chiếc nón lá chụp nên miệng lu thấy đầy gợi cảm. Thế là hình hài các bộ đồ sứ Minh Long I với hơn 54 sản phẩm phục vụ cho ăn uống ra đời, đều dáng dấp cái lu đựng nước, có nắp thì mang hình chiếc nón lá quê hương. Thật chí lý vì nó thân quen, rất Nam Bộ, rất Việt Nam...

Việc tìm ra được hai mầu đỏ cung đình và mầu xanh da trời cho hai bộ đồ uống trà Sơn Hà, Cẩm Tú đối với ông Minh cũng thật thần kỳ. Ông Minh kể: "Bộ Sơn Hà tôi chọn gam mầu đỏ cung đình, vì Sơn Hà có nghĩa là quốc gia, non sông đất nước, chỉ có mầu son cẩn vàng là phù hợp với uy quyền chốn hoàng cung". Trong nghề gốm sứ khi nói đến mầu đỏ ai cũng biết là khó làm, lại là mầu son đỏ cẩn vàng nung ở nhiệt độ cao 1.250oC, chìm dưới men  nên càng khó. Nhưng với lòng đam mê nghề nghiệp, thêm chút may mắn, cuối cùng ông Minh cũng thành công. Bộ Cẩm Tú thể hiện sự cao sang quyền quý nên ông Minh chọn mầu xanh da trời, mầu xanh mà người Trung Quốc gọi là "Vũ quá thiên thanh" (mầu xanh sau cơn mưa), ngay ở Trung Quốc cũng đã mai một, người phương Tây gọi mầu này là "mầu xanh vua", có lẽ vì nó quá đẹp, không thể có mầu nào đẹp hơn. Hiện nay đồ sứ thế giới cũng không thấy tồn tại mầu này, các hãng điều chế men mầu đều gặp khó khăn, vì chưa ai pha chế được mầu này ở độ cao 1.250oC. Ông Minh tâm sự: "Gần hai năm tốn bao công sức tôi vẫn bó tay. Ðã có lúc cả thầy và trò tôi cảm thấy chán nản, tưởng phải bỏ cuộc".  Năm thứ ba, vào một ngày chủ nhật, ông Minh đến phòng thí nghiệm cùng với anh em làm việc, bỗng mầu xanh da trời "Vũ quá thiên thanh" hiện lên như một phép tiên, không phải mầu xanh vua mà đẹp hơn nhiều lần, quả đúng là mầu xanh Trời. "Tôi mừng quá vì không nghĩ mình lại làm được thứ mầu sắc mà mình chỉ được đọc trong sách và nghe kể lại chứ chưa từng nhìn thấy bao giờ". Ông Minh "bật mí": Ðể làm được hai mầu đỏ cung đình và xanh Vũ quá thiên thanh này, ngoài chịu khó tìm tòi "thêm chút may mắn" như "hỏa biến", tất cả nhờ vào công nghệ điều chế từ mầu coban "phát sáng" trên nhiệt độ cao sao cho sự tác hợp giữa ô-xy với sắt "đúng lúc, đúng tầm" mới được Hoàng nguyên (nếu không chỉ là mầu đen), lại thực hiện ở nhiệt độ cao 1.250oC, chìm dưới men, "khó là thế"...

"Vua" lò gốm Lê Thành Công

Chuyện về người tìm ra "ngọn lửa thần" cho nghề gốm sứ Bình Dương cũng thật đặc biệt. Ðó là buổi sáng Lê Thành Công gặp Nguyễn Văn Ðức ở một quán cà-phê ven đường. Hỏi chuyện mới biết Ðức làm nghề đốt lò gas cho Công ty gốm sứ Ðại Hồng Phát. Ý nghĩ về làm lò gas nung gốm sứ vụt lóe sáng trong đầu Công. Ngặt nỗi Công đã ít học, Ðức còn tệ hơn, ở dạng tái mù "coi như không biết chữ". Nhưng phong cách "quê mùa" giống nhau đã kéo hai người "chụm lại". Công nhờ Ðức đo vẽ giúp các bộ phận của chiếc lò gas 4 m3 hiệu Ðài Loan mà Ðức đang "châm lửa". Phải mất hơn 5 tháng, Công mới có được 23 bản vẽ "toàn dấu gạch" của Ðức. Công cũng được Ðức cho "ăn theo" mục sở thị cái lò gas nung gốm sứ. Nhờ đó, Công mày mò làm ra được một lò nung theo cách của mình. Sau ba tháng trời theo Ðức vận hành, tuy biết cách "đốt lửa" của Ðức còn nhiều khiếm khuyết và cấu tạo lò nhập ngoại nhiều chỗ chưa hợp lý, chất lượng sản phẩm chưa cao, khó vận hành và tốn nhiên liệu, song biết tính Ðức cục nên Công không dám nói, đành phải đợi thời cơ. Cuối năm 2001, Ðức về bắc ăn Tết và ở lại hơi lâu. Chủ doanh nghiệp La Nam và cả Công đều sốt ruột. Không thể chờ mãi, Công đành đảm nhận cả vai trò "anh thợ lửa", phải hứa với chủ lò: "Nếu có gì không đạt, mọi phí tổn Công chịu hết". Công thay đổi cách xếp vỉ và điều chỉnh lại tất cả các hệ thống thông gió, đặt bép phun gas theo cách tính toán của mình và không ngờ đã rút ngắn thời gian đốt lò tới ba giờ đồng hồ, tiết kiệm 20% gas và sản lượng đạt chất lượng 95% so với trước chỉ đạt 75%.

Giữa thời điểm tỉnh Bình Dương chủ trương di chuyển các lò gốm sứ ra khỏi các khu dân cư và thị xã để chống ô nhiễm môi trường, tin đồn Lê Thành Công tìm ra "ngọn lửa thần", sáng chế ra lò nung gốm sứ gas đạt chất lượng 95%, tiết kiệm 20% nhiên liệu, giá chỉ bằng 2/3 lò nhập ngoại mở ra hướng sản xuất mới cho các lò gốm sứ. Và thế là doanh nghiệp tư nhân sản xuất lò gas Nhất Thống của Lê Thành Công ra đời. Chỉ hai năm 2002 - 2003, Lê Thành Công đã lắp đặt cho các doanh nghiệp gốm sứ ở Bình Dương, Ðồng Nai, thành phố Hồ Chí Minh hơn 100 lò gas, cứ cái sau hiện đại và to hơn cái trước, từ 4 m3, 6 m3 đến 12, 18, 24, 36 rồi 54, 72 m3. Chất lượng lúc đầu là 95% dần dần lên đến 97, 98, 99%, tỷ lệ thuận với tiết kiệm  nhiên liệu từ 20% đến 45%... Cả nhà máy sản xuất gốm sứ xuất khẩu của Ô-xtrây-li-a tại thành phố Hồ Chí Minh cũng bỏ luôn các lò của I-ta-li-a, Ðài Loan để mua lò của Lê Thành Công.

Tiếng tăm của doanh nghiệp Nhất Thống nổi như cồn. Lê Thành Công còn được tín nhiệm bởi chất "quê mùa", chịu thương chịu khó, trung thực. Ðã quyết là làm và làm đến nơi, đến chốn, "có bắt hắn làm ẩu, làm xấu hắn cũng không làm được". Từ năm 2005, Lê Thành Công chuyển sang làm lò điều khiển tự động. Tất cả đều được cài đặt trên máy vi tính, trong khi đó các lò nhập từ nước ngoài vẫn còn những phần việc phải điều khiển bằng tay. Năm 2006, Lê Thành Công và cộng sự đã sáng chế và đưa vào sản xuất thành công lò nung khổng lồ 100 m3 sử dụng nhiên liệu hỗn hợp gas-dầu, điều khiển hoàn toàn tự động, chất lượng sản phẩm đạt 100%, thời gian rút ngắn từ 18 giờ xuống còn 11 giờ, tiền nhiên liệu chỉ tốn bằng 45% so với lò nung nguyên gas.

Mừng thành công lò mới, Lê Thành Công đặt tiệc "thịt gà lá chanh" đãi khách ngay bên chiếc lò nung khổng lồ 100 m3 điều khiển hoàn toàn tự động vừa nung xong mẻ gốm thứ 25. Công nhấn nút điều khiển, tiếng xích sắt chuyển động vo đều, vỏ lò chuyển dịch theo đường ray lộ thiên hàng nghìn sản phẩm rực đỏ, tiếng gõ keng đanh. Tôi nâng ly rượu đế chúc mừng, còn Lê Thành Công hồ hởi kể: Tháng trước một doanh nghiệp nhập lò của Ma-lai-xi-a sang lắp đặt cả 7 tháng trời, nung đi, nung lại ba lần, hàng vẫn "sống" tới 50%. Hai chuyên gia người Ma-lai-xi-a đành phải chào thua. Trước khi về nước, họ tha thiết đến xem lò của mình, vừa to hơn, lại điều khiển hoàn toàn tự động, nhiên liệu thì vừa gas, vừa dầu mà sản phẩm đạt 100%. Hai vị khách vô cùng ngạc nhiên: "không hiểu ông làm cách nào mà có được kết quả mỹ mãn như vậy!?". Rượu ngà ngà, Lê Thành Công dốc bầu tâm sự: "Từ một anh làm thuê đủ thứ để mưu sinh, nay lên làm giám đốc rất nhiều cái khó. Mọi việc đều phải tự học, tự làm. Phải tích cóp vốn, phải mày mò nâng cao kiến thức, đúc rút kinh nghiệm, phải tạo được mối quan hệ làm ăn và cả "máu liều"... Ðủ thứ chuyện trên trời dưới đất mà mình thì ít chữ. Gọi là học lớp sáu, lớp bảy cho nó "oắt" chứ mải mưu sinh, nay coi như chữ đã trả thầy. May còn "cái quyết tâm", khó mấy cũng không buông xuôi, tìm thầy, tìm thợ làm cho kỳ được...

Năm Festival gốm sứ Việt Nam lần thứ nhất, Bình Dương thật tự hào: Ở "cái rốn" gốm sứ Nam Bộ có một Thành Công chuyên làm lò nung "tốt hơn cả lò nhập ngoại". Cũng như Minh Long, sản phẩm nổi tiếng khắp Á-Âu, làm rạng danh nghề gốm sứ Việt Nam.

Nguồn : Báo Nhân Dân

 

Phong thủy

Chọn màu sắc và số may mắn năm Nhâm Thìn Chọn màu sắc và số may mắn năm Nhâm Thìn Theo các chuyên gia về phong thủy, nếu biết dùng các màu phù hợp với từng...
Cá rồng đỏ mang lại may mắn Cá rồng đỏ mang lại may mắn Theo văn hóa Trung Quốc, nuôi cá rồng đỏ trong nhà sẽ mang lại sự may mắn và...
Chọn người xông đất, hướng xuất hành năm Nhâm Thìn Chọn người xông đất, hướng xuất hành năm Nhâm Thìn Theo quan niệm phương Đông, chuyện xông đất, xuất hành đầu năm mới ảnh...
Khắc phục phòng ngủ thiếu sáng Khắc phục phòng ngủ thiếu sáng Phòng ngủ thiếu ánh sáng nên được khắc phục như thế nào cho phù hợp? Trần...
Những loại cây có tác dụng hóa giải ở ban công Những loại cây có tác dụng hóa giải ở ban công Trồng cây, hoa không chỉ giúp ban công nhà bạn đẹp hơn, xanh mát hơn mà còn có...
Cách chọn tầng chung cư hợp tuổi Cách chọn tầng chung cư hợp tuổi Phong thủy học cho rằng, khi mua nhà ở chung cư, ngoài việc chọn hình thế ngôi...

Khách trực tuyến

      Hiện có 8 khách Trực tuyến